Hệ thống bôi trơn xe 2 thì hoạt động như thế nào?
Động cơ 2 thì có kết cấu gọn, bắt ga nhanh và cho công suất tốt, nhưng lại phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống bôi trơn. Khác với xe 4 thì có nhớt máy tuần hoàn trong các-te, xe 2 thì sử dụng nhớt 2T đi theo hòa khí vào bên trong động cơ. Lượng nhớt này bôi trơn trục khuỷu, bạc đạn, tay dên, piston và lòng xi-lanh trước khi được đốt cháy cùng nhiên liệu.
Vì nhớt 2T được sử dụng theo kiểu “bôi trơn một lần”, chỉ cần đường ống bị nghẹt, bơm nhớt chỉnh sai hoặc hệ thống có nhiều bọt khí là động cơ có thể thiếu nhớt rất nhanh. Hiểu nguyên lý hoạt động sẽ giúp anh em kiểm tra xe chính xác hơn, đặc biệt trên các dòng Honda Nova, Nova Dash, NZ125R/NZ125RS và nhiều mẫu xe 2 thì đời cũ.
Hệ thống bôi trơn xe 2 thì có gì khác xe 4 thì?
Trên động cơ 4 thì, nhớt máy được chứa trong các-te rồi bơm tuần hoàn qua những vị trí cần bôi trơn. Sau khi làm nhiệm vụ, nhớt chảy trở lại các-te và tiếp tục được sử dụng cho đến kỳ thay nhớt.
Động cơ 2 thì không sử dụng kiểu tuần hoàn này cho cụm piston – trục khuỷu. Nhớt 2T được đưa vào đường nạp, hòa với xăng và không khí rồi đi qua bên trong máy. Sau khi tạo lớp dầu bôi trơn cho các chi tiết, nhớt tiếp tục vào buồng đốt và cháy cùng hòa khí.
| Tiêu chí | Động cơ 2 thì | Động cơ 4 thì |
|---|---|---|
| Loại nhớt chính | Nhớt 2T chuyên dụng | Nhớt máy 4T |
| Cách bôi trơn | Nhớt đi theo hòa khí và được đốt cháy | Nhớt tuần hoàn trong động cơ |
| Mức nhớt | Giảm dần trong quá trình sử dụng | Không giảm nhanh nếu máy bình thường |
| Bảo dưỡng | Châm thêm nhớt 2T và kiểm tra hệ thống cấp nhớt | Thay nhớt định kỳ theo số kilomet hoặc thời gian |
Nhớt 2T và nhớt máy 4T có công thức cũng như cách làm việc khác nhau. Không nên lấy nhớt 4T đổ vào bình nhớt 2T để sử dụng thay thế.
Hai phương pháp bôi trơn thường gặp trên xe 2 thì
1. Pha nhớt trực tiếp vào xăng
Đây là phương pháp đơn giản nhất. Nhớt 2T được pha vào xăng theo tỷ lệ phù hợp trước khi nhiên liệu đi vào chế hòa khí. Khi động cơ hoạt động, hỗn hợp xăng, nhớt và không khí được hút vào máy để vừa đốt cháy vừa bôi trơn.
Ưu điểm của cách này là kết cấu đơn giản, không cần bơm nhớt riêng. Tuy nhiên, người sử dụng phải pha đúng tỷ lệ. Pha quá ít làm máy thiếu bôi trơn; pha quá nhiều khiến xe khói nhiều, đóng muội bugi, nghẹt pô và chạy không sạch máy.
2. Bôi trơn tự động bằng bơm nhớt 2T
Phần lớn xe 2 thì sử dụng hằng ngày được trang bị bình nhớt riêng và bơm nhớt tự động. Người chạy xe chỉ cần châm nhớt 2T vào bình chứa. Bơm sẽ định lượng nhớt theo tốc độ động cơ và độ mở tay ga rồi đưa lượng nhớt cần thiết vào đường nạp.
Hệ thống này tiện hơn phương pháp pha nhớt thủ công, đồng thời có thể thay đổi lượng nhớt theo chế độ vận hành. Khi xe chạy ga nhỏ, bơm cấp ít nhớt hơn. Khi lên ga hoặc động cơ quay nhanh, lượng nhớt được tăng lên để đáp ứng nhu cầu bôi trơn.
Các bộ phận chính của hệ thống bôi trơn 2T tự động
- Bình nhớt 2T: chứa nguồn nhớt dành riêng cho hệ thống bôi trơn.
- Nắp bình và đường thông hơi: giúp không khí đi vào bình khi nhớt chảy xuống, tránh tình trạng bí hơi.
- Cảm biến báo mức nhớt: theo dõi lượng nhớt còn lại và bật đèn cảnh báo khi mức nhớt xuống thấp.
- Ống nhớt cấp: dẫn nhớt từ bình chứa xuống cửa hút của bơm.
- Bơm nhớt 2T: hút, định lượng và đẩy nhớt đến động cơ.
- Dây điều khiển bơm: liên kết cơ cấu bơm với tay ga trên những hệ thống sử dụng bơm cơ khí.
- Ống nhớt ra: đưa lượng nhớt đã được định lượng từ bơm tới đường nạp.
- Đầu cấp nhớt: đưa nhớt vào cổ hút, chế hòa khí hoặc vị trí được nhà sản xuất thiết kế.
Hệ thống bôi trơn xe 2 thì hoạt động theo từng bước
Bước 1: Nhớt đi từ bình chứa xuống bơm
Nhớt 2T nằm trong bình chứa và chảy qua ống cấp tới cửa hút của bơm. Ở đoạn này, nhớt thường đi xuống nhờ trọng lực nên bình phải còn đủ nhớt, lỗ thông hơi không bị nghẹt và đường ống không được gập hoặc bóp nghẹt.
Nếu ống nhớt bị chai cứng, nứt hoặc đầu nối không kín, hệ thống có thể rỉ nhớt hoặc hút không khí vào. Những bọt khí nhỏ có thể di chuyển theo dòng nhớt, nhưng một khoảng trống lớn nằm yên trong ống là dấu hiệu cần kiểm tra ngay.
Bước 2: Bơm nhớt định lượng theo tình trạng vận hành
Bơm nhớt 2T thường được dẫn động trực tiếp từ động cơ. Trên loại bơm cơ khí, tay bơm còn liên kết với dây ga để điều chỉnh lưu lượng.
Khi động cơ quay nhanh, bơm làm việc nhiều hơn. Khi người lái mở ga, tay bơm được kéo sang vị trí cấp nhớt lớn hơn. Hai yếu tố này phối hợp để lượng nhớt tăng theo tải và tốc độ máy.
Trên thân bơm thường có dấu chuẩn để kiểm tra vị trí tay bơm. Nếu dây điều khiển được chỉnh quá căng hoặc quá chùng, lượng nhớt cấp có thể bị dư hoặc thiếu. Không nên chỉnh bơm theo cảm giác hoặc cố tình tăng nhớt quá nhiều chỉ vì muốn “chắc ăn”.
Bước 3: Nhớt được đẩy qua ống nhỏ đến đường nạp
Sau khi được định lượng, nhớt đi qua ống nhớt ra. Đường ống này thường nhỏ hơn ống cấp từ bình xuống bơm. Nhớt được đưa đến họng chế hòa khí, cổ hút hoặc một vị trí cấp nhớt riêng tùy thiết kế động cơ.
Tại đây, nhớt hòa vào dòng xăng và không khí. Hòa khí mang theo những hạt dầu nhỏ đi vào bên trong động cơ.
Bước 4: Nhớt bôi trơn các chi tiết bên trong máy
Khi hòa khí đi qua các-te và đường chuyển, nhớt tạo một lớp màng dầu mỏng trên những chi tiết chịu ma sát và nhiệt độ cao, gồm:
- Bạc đạn trục khuỷu.
- Chốt dên và bạc đạn đầu lớn của tay dên.
- Chốt piston và bạc đạn đầu nhỏ.
- Thân piston, xéc-măng và lòng xi-lanh.
- Các bề mặt chuyển động cần được nhà sản xuất cấp nhớt.
Lớp dầu này giúp giảm ma sát, hạn chế mài mòn, hỗ trợ làm kín giữa xéc-măng với lòng xi-lanh và góp phần kéo nhiệt ra khỏi bề mặt chi tiết.
Bước 5: Nhớt đi vào buồng đốt và thoát ra qua pô
Sau khi bôi trơn, nhớt tiếp tục đi cùng hòa khí vào buồng đốt. Phần lớn nhớt được đốt cháy rồi thoát ra qua hệ thống pô. Vì vậy, xe 2 thì thường có mùi nhớt và một lượng khói đặc trưng, nhất là lúc máy còn nguội, kéo ga lớn hoặc sử dụng loại nhớt tạo nhiều khói.
Một phần cặn sau quá trình cháy có thể bám vào đầu piston, cửa xả, bugi và bên trong pô. Sử dụng nhớt 2T đúng tiêu chuẩn và để hệ thống cấp đúng lượng sẽ giúp hạn chế đóng muội.
Sơ đồ đường đi của nhớt 2T
Bình nhớt 2T → ống nhớt cấp → bơm nhớt 2T → ống nhớt ra → đường nạp → các-te trục khuỷu → piston và xi-lanh → buồng đốt → ống pô.
Ở một số động cơ, đường cấp nhớt có thể được chia thành nhiều nhánh hoặc đưa tới những vị trí khác nhau. Khi tháo lắp, phải ghi nhớ đúng đầu ống và đúng vị trí kết nối; không nên đấu lại theo phỏng đoán.
Cảm biến báo nhớt có điều khiển bơm nhớt không?
Trên đa số xe 2 thì đời cũ, cảm biến trong bình chỉ có nhiệm vụ báo mức nhớt xuống thấp. Cảm biến không đo lưu lượng và cũng không xác nhận bơm nhớt đang hoạt động.
Vì vậy, bình còn nhớt và đèn báo hoạt động bình thường không đồng nghĩa nhớt chắc chắn đã tới động cơ. Đường ống vẫn có thể bị nghẹt, bơm có thể sai dấu canh hoặc hệ thống có bọt khí sau khi tháo lắp.
Dấu hiệu hệ thống bôi trơn 2T có thể đang cấp thiếu nhớt
- Máy nóng nhanh hơn bình thường.
- Tiếng máy khô, có tiếng rít hoặc tiếng gõ bất thường.
- Piston có dấu hiệu bó nhẹ khi máy nóng.
- Ống nhớt xuất hiện khoảng trống lớn hoặc không thấy nhớt di chuyển.
- Mức nhớt trong bình gần như không giảm sau thời gian dài sử dụng.
- Tay bơm không trở về hoặc dây điều khiển bị tuột, kẹt, đứt.
- Sau khi tháo bình, thay ống hoặc sửa bơm nhưng chưa xả gió.
Nếu nghi ngờ máy đang thiếu nhớt, không nên tiếp tục kéo ga để “thử thêm”. Chỉ vài phút vận hành trong tình trạng bôi trơn không đủ cũng có thể làm trầy piston, xước lòng, hư bạc đạn hoặc bó máy.
Dấu hiệu hệ thống có thể đang cấp dư nhớt
- Khói pô dày liên tục dù máy đã nóng.
- Bugi thường xuyên bị ướt và đóng muội đen.
- Xe hụp ga, khó nổ hoặc dễ tắt máy khi chạy chậm.
- Pô nhanh đóng cặn và chảy dầu đen ở miệng pô.
- Mức nhớt trong bình giảm nhanh bất thường.
- Dấu canh bơm sai hoặc dây bơm được chỉnh quá căng.
Tuy nhiên, khói nhiều không phải lúc nào cũng do bơm nhớt cấp dư. Xe có thể khói vì nhớt đọng trong pô, chỉnh xăng dư, phốt dên phía hộp số bị hư hoặc sử dụng loại nhớt không phù hợp. Cần kiểm tra tổng thể trước khi chỉnh bơm.
Những sai lầm thường gặp khi sử dụng hệ thống nhớt 2T
- Chỉ nhìn khói pô để đánh giá lượng nhớt: lượng khói còn phụ thuộc nhiệt độ máy, loại nhớt, tình trạng chế hòa khí và cặn trong pô.
- Để bình nhớt cạn mới châm: không khí có thể lọt vào đường ống và làm bơm mất mồi.
- Tự chỉnh bơm cấp thật nhiều: nhớt dư không làm động cơ bền hơn nếu vượt khỏi mức thiết kế.
- Dùng nhớt 4T thay nhớt 2T: loại nhớt không đúng có thể cháy không sạch và không phù hợp với cơ chế bôi trơn của máy 2 thì.
- Pha thêm nhớt vào xăng thường xuyên: dễ làm sai tỷ lệ, đóng muội bugi và nghẹt pô khi hệ thống tự động vẫn hoạt động bình thường.
- Thay ống rồi cho máy chạy ngay: đường nhớt chưa được xả gió có thể khiến động cơ thiếu bôi trơn trong thời gian đầu.
- Cắm nhầm đường ống: ống nhớt, ống xăng, ống chân không và ống nước phải được nhận diện đúng trước khi lắp.
Cách chăm sóc hệ thống bôi trơn xe 2 thì
- Kiểm tra mức nhớt trong bình thường xuyên, không chờ đến khi đèn báo mới châm.
- Dùng nhớt 2T có nguồn gốc rõ ràng và phù hợp với hệ thống bơm nhớt tự động.
- Giữ sạch khu vực quanh nắp bình trước khi mở để tránh bụi và nước lọt vào.
- Kiểm tra ống nhớt nếu thấy chai cứng, đổi màu, nứt hoặc rỉ dầu tại đầu nối.
- Kiểm tra dấu canh bơm, dây điều khiển và các kẹp ống trong mỗi lần bảo dưỡng lớn.
- Sau khi tháo bình, thay ống hoặc sửa bơm, phải xả gió và mồi nhớt đúng quy trình.
- Không tự ý mở bơm nhớt nếu chưa có dụng cụ và kinh nghiệm sửa xe 2 thì.
Có nên bỏ bơm nhớt để chuyển sang pha xăng?
Một số xe cũ được chuyển sang pha nhớt trực tiếp vì chủ xe lo bơm hư hoặc khó tìm phụ tùng. Tuy nhiên, nếu bơm nguyên bản còn tốt và được bảo dưỡng đúng, hệ thống tự động vẫn tiện dụng và cấp nhớt phù hợp hơn theo từng chế độ ga.
Việc loại bỏ bơm nhớt làm thay đổi cách vận hành và yêu cầu người sử dụng phải pha đúng tỷ lệ trong mọi lần đổ xăng. Chỉ cần quên pha hoặc ước lượng sai là động cơ có thể hư nặng. Do đó, không nên tự ý bỏ hệ thống bơm nhớt khi chưa đánh giá đầy đủ tình trạng xe.
Kết luận
Hệ thống bôi trơn xe 2 thì hoạt động bằng cách đưa nhớt 2T từ bình chứa qua bơm định lượng rồi hòa vào đường nạp. Dòng hòa khí mang nhớt đến bôi trơn trục khuỷu, bạc đạn, tay dên, piston và lòng xi-lanh trước khi nhớt được đốt cháy và thoát ra qua pô.
Hệ thống này hoạt động hiệu quả khi bình còn đủ nhớt, đường ống kín, không có khoảng khí lớn, bơm đúng dấu canh và các đầu nối được lắp chính xác. Nếu vừa tháo lắp hoặc phát hiện dấu hiệu cấp nhớt bất thường, anh em nên ngừng chạy xe và kiểm tra sớm. Khi cần thay bình nhớt, ống dẫn, dây bơm hoặc bơm nhớt 2T, nên chọn phụ tùng đúng đời xe và có chất lượng rõ ràng để bảo vệ động cơ lâu dài.