Đổ dư hay thiếu nhớt cho máy Nova có sao không ?
BLOG NOVA

Đổ dư hoặc thiếu nhớt máy có sao không? Dấu hiệu nhận biết và cách xử lý

Châm thiếu nhớt có thể làm nóng máy, mau mòn bánh răng và bộ nồi; châm dư lại khiến xe bị ì, nổi bọt nhớt hoặc rò dầu. Bài viết hướng dẫn cách nhận biết, kiểm tra và xử lý đúng kỹ thuật.

Đổ dư hoặc thiếu nhớt máy có sao không? Dấu hiệu và cách xử lý

Nhớt máy không phải cứ châm càng nhiều là càng tốt. Thiếu nhớt làm bánh răng, bạc đạn và bộ nồi không được bôi trơn đầy đủ; trong khi châm dư nhớt lại làm tăng lực cản, dễ nổi bọt và có thể đẩy nhớt ra đường thông hơi, ron hoặc phốt. Nếu xe bắt đầu nóng bất thường, vô số nặng, khó kiếm số mo, máy chạy ì hoặc lốc máy bị rịn nhớt sau khi mới thay dầu, anh em nên kiểm tra mức nhớt trước khi tiếp tục chạy hoặc đem xe ra tiệm.

Đối với xe 2 thì như NZ125R và NZ125RS, cần phân biệt rõ nhớt 2Tnhớt máy 4T. Nhớt 2T nằm trong bình riêng, được bơm vào động cơ để bôi trơn phần hơi. Nhớt máy 4T được châm vào lốc máy để bôi trơn hộp số, bộ nồi, bạc đạn và các chi tiết truyền động. Hai loại nhớt này không thay thế cho nhau.

Thiếu nhớt máy gây ảnh hưởng gì?

Khi lượng nhớt trong lốc máy thấp hơn mức quy định, lớp màng dầu giữa các chi tiết kim loại sẽ bị mỏng đi. Bánh răng, bạc đạn và những bề mặt chuyển động không được bôi trơn đầy đủ, dẫn đến ma sát và nhiệt độ tăng cao.

Bánh răng và bạc đạn mau mòn

Nhớt có nhiệm vụ tạo lớp màng ngăn hai bề mặt kim loại cạ trực tiếp vào nhau. Nếu thiếu nhớt, mặt răng số, trục và bạc đạn có thể bị xước, rỗ hoặc mòn nhanh. Khi hư nặng, hộp số thường phát ra tiếng hú theo tốc độ xe.

Hộp số nóng và vô số nặng

Ngoài việc bôi trơn, nhớt còn giúp truyền nhiệt ra vỏ máy. Khi lượng nhớt không đủ, hộp số dễ nóng hơn bình thường. Anh em có thể cảm nhận xe vô số cứng, trả số không ngọt hoặc khó kiếm số mo khi dừng xe.

Bộ nồi làm việc không ổn định

NZ125R và NZ125RS sử dụng bộ nồi ướt, nghĩa là các lá bố và lá sắt làm việc trong nhớt. Nếu thiếu nhớt, bộ nồi có thể nóng, bắt không đều, phát tiếng kêu hoặc mau cháy bố nồi.

Có thể dẫn đến hư hộp số

Nếu tiếp tục chạy khi lốc máy gần cạn nhớt, bạc đạn hoặc bánh răng có thể quá nhiệt, cháy bề mặt hoặc bó kẹt. Khi đó, chỉ châm thêm nhớt sẽ không giải quyết được phần chi tiết đã bị hư.

Dấu hiệu xe đang thiếu nhớt máy

  • Lốc máy nóng nhanh dù xe không chạy tải nặng.
  • Vô số nặng, trả số khó hoặc khó kiếm số mo.
  • Hộp số phát ra tiếng hú, tiếng rít hoặc tiếng va đập lạ.
  • Bộ nồi bắt không đều, xe giật khi vô số.
  • Có vết nhớt dưới nền hoặc quanh lốc máy.
  • Nhớt rịn tại ốc xả, ron lốc, phốt cần số hoặc phốt nhông trước.
  • Mở ốc thăm nhớt nhưng không thấy nhớt chảy ra.
  • Lượng nhớt xả ra thấp hơn nhiều so với dung tích tiêu chuẩn.

Nếu xe đang chạy mà phát ra tiếng kim loại lớn, vô số bị kẹt hoặc lốc máy nóng bất thường, nên tắt máy kiểm tra. Không nên cố chạy thêm vì có thể làm bánh răng và bạc đạn hư nặng hơn.

Châm dư nhớt máy có sao không?

Nhiều người nghĩ châm dư một chút sẽ giúp máy được bảo vệ tốt hơn. Thực tế, lượng nhớt vượt mức quy định có thể làm hộp số và bộ nồi hoạt động không đúng.

Nhớt bị khuấy và nổi bọt

Khi mức nhớt quá cao, các bánh răng quay sẽ khuấy mạnh vào nhớt. Không khí bị trộn vào dầu tạo thành bọt, khiến khả năng hình thành màng bôi trơn ổn định bị giảm. Như vậy, dù trong lốc có nhiều nhớt nhưng hiệu quả bôi trơn chưa chắc tốt hơn.

Máy bị ì và vô số nặng

Dư nhớt làm tăng lực cản lên bánh răng và bộ nồi. Xe có thể bị ì, lên ga không thoát, vô số nặng hoặc khó kiếm số mo hơn sau khi thay nhớt.

Nhớt bị đẩy ra đường thông hơi

Khi nhớt nóng lên, thể tích và áp suất bên trong lốc máy thay đổi. Nếu châm quá đầy, nhớt có thể bị đẩy ra ống thông hơi rồi chảy xuống lốc máy hoặc đi vào hộp gió. Hiện tượng này đôi khi bị lầm với hư phốt hoặc hở ron.

Ron và phốt dễ bị rịn nhớt

Mức nhớt quá cao kết hợp với áp suất trong lốc máy có thể làm lộ ra những vị trí làm kín đã yếu. Nhớt thường rịn quanh ron lốc, phốt cần số, phốt nhông hoặc ốc xả.

Dấu hiệu xe có thể đã bị châm dư nhớt

  • Xe bị ì hoặc vô số nặng ngay sau khi thay nhớt.
  • Khó kiếm số mo hoặc xe hơi kéo tới dù đã bóp hết tay côn.
  • Nhớt bị đẩy ra ống thông hơi hoặc chảy vào khu vực hộp gió.
  • Lốc máy bắt đầu rịn nhớt dù trước đó không bị.
  • Mở ốc thăm nhớt thấy nhớt trào ra nhiều thay vì chỉ vừa rịn ra.
  • Lượng nhớt đã châm cao hơn dung tích nhà sản xuất quy định.

Nhớt máy NZ125R và NZ125RS dùng loại nào?

Theo tài liệu sửa chữa, xe sử dụng nhớt xe máy Honda 4T hoặc sản phẩm tương đương, có các thông số sau:

  • Độ nhớt: SAE 10W-30.
  • Cấp chất lượng: SE, SF hoặc SG.
  • Nên dùng nhớt dành cho xe số có bộ nồi ướt.

Thông số SE, SF và SG là các cấp chất lượng được ghi trong tài liệu đời xe. Khi sử dụng loại nhớt hiện nay, có thể chọn sản phẩm đáp ứng cấp chất lượng tương đương hoặc cao hơn, nhưng vẫn phải phù hợp với xe số và bộ nồi ướt.

Dung tích nhớt tiêu chuẩn

Phiên bản Sau khi xả nhớt định kỳ Sau khi rã máy
NZ125R 1,1 lít 1,3 lít
NZ125RS 1,0 lít 1,1 lít

Dung tích sau khi rã máy luôn cao hơn vì nhớt cũ đã được lấy ra khỏi nhiều khoang bên trong. Khi chỉ thay nhớt định kỳ, không nên lấy thông số sau khi rã máy để châm vào xe vì rất dễ bị dư nhớt.

Cách kiểm tra mức nhớt máy

  1. Dựng xe bằng chống đứng trên nền bằng phẳng.
  2. Nổ máy garanti khoảng 2–3 phút để nhớt lưu thông và đạt nhiệt độ làm việc nhẹ.
  3. Tắt máy và giữ xe trên chống đứng.
  4. Đặt giẻ sạch dưới vị trí ốc thăm nhớt.
  5. Mở ốc thăm nhớt và quan sát lượng nhớt tại lỗ kiểm tra.

Khi mức nhớt đúng, nhớt phải vừa bắt đầu chảy hoặc rịn ra tại lỗ thăm. Nếu không có nhớt chảy ra, châm thêm từng ít một rồi kiểm tra lại. Nếu nhớt trào ra quá nhiều, cần xả bớt đến đúng mức.

Không nên châm một lần quá nhiều. Sau mỗi lần châm, cần chờ một chút để nhớt chảy xuống lốc rồi mới kiểm tra tiếp.

Lực siết ốc thăm nhớt: 15 N·m.

Cách thay nhớt máy đúng kỹ thuật

Dụng cụ cần chuẩn bị

  • Nhớt xe máy 4T đúng loại và đủ dung tích.
  • Tuýp hoặc khóa vòng đúng cỡ ốc xả và ốc thăm nhớt.
  • Cần siết lực nếu có.
  • Khay hứng nhớt cũ.
  • Ca có vạch chia dung tích và phễu châm nhớt.
  • Long đền ốc xả mới nếu long đền cũ đã chai hoặc móp.
  • Găng tay và giẻ sạch.

Các bước thực hiện

  1. Nổ máy garanti khoảng 2–3 phút để nhớt ấm và loãng hơn, sau đó tắt máy.
  2. Mở nắp châm nhớt để không khí đi vào, giúp nhớt cũ chảy ra dễ hơn.
  3. Đặt khay hứng bên dưới rồi mở ốc xả nhớt. Cẩn thận vì nhớt có thể còn nóng.
  4. Chờ nhớt chảy hết. Quan sát nhớt cũ xem có mùi khét, lẫn nước hoặc có quá nhiều mạt kim loại hay không.
  5. Kiểm tra ren ốc xả và long đền. Thay long đền nếu bị chai, nứt, móp hoặc biến dạng.
  6. Gắn lại ốc xả và siết đúng lực. Không siết quá tay vì lốc máy bằng nhôm rất dễ tuôn ren.
  7. Châm lượng nhớt ban đầu theo dung tích của đúng phiên bản xe.
  8. Đậy nắp châm, nổ máy garanti khoảng 2–3 phút rồi tắt máy.
  9. Dựng xe bằng chống đứng trên nền phẳng và kiểm tra lại bằng ốc thăm nhớt.
  10. Châm thêm hoặc xả bớt cho đến khi nhớt vừa xuất hiện tại lỗ thăm.
  11. Lau sạch lốc máy, nổ máy lại và kiểm tra rò rỉ quanh ốc xả, ốc thăm, ron và phốt.
  12. Chạy thử nhẹ để kiểm tra khả năng vô số, kiếm số mo và hoạt động của bộ nồi.

Lực siết ốc xả nhớt: 22 N·m.

Cách xử lý khi châm dư nhớt

Nếu mới thay nhớt và phát hiện châm quá mức, không cần xả bỏ toàn bộ nếu nhớt vẫn sạch và đúng loại. Có thể xử lý theo cách sau:

  1. Tắt máy và để xe trên nền phẳng.
  2. Chờ nhớt ổn định trong lốc máy.
  3. Dùng dụng cụ hút nhớt sạch hoặc mở nhẹ ốc xả để lấy ra từng ít một.
  4. Kiểm tra lại tại lỗ thăm nhớt.
  5. Dừng xả khi nhớt chỉ vừa rịn ra tại lỗ thăm.
  6. Lau sạch lốc máy rồi nổ máy kiểm tra rò rỉ.

Không nên tiếp tục chạy xe với hy vọng lượng nhớt dư sẽ tự mất đi. Nhớt có thể bị đẩy qua đường thông hơi hoặc làm các vị trí ron, phốt bắt đầu rịn.

Cách xử lý khi xe thiếu nhớt

Nếu thiếu ít và xe chưa xuất hiện tiếng động bất thường, có thể châm thêm đúng loại nhớt đến đúng mức. Tuy nhiên, vẫn phải tìm nguyên nhân vì nhớt trong lốc máy không tự nhiên mất đi quá nhanh.

Cần kiểm tra các vị trí sau:

  • Ốc xả nhớt và long đền ốc xả.
  • Ốc thăm nhớt.
  • Ron nắp lốc máy.
  • Phốt cần số.
  • Phốt nhông trước.
  • Ống thông hơi lốc máy.
  • Các vết nứt hoặc va đập dưới lốc máy.

Nếu xe đã chạy trong tình trạng thiếu nhớt và có tiếng hú lớn, tiếng gõ, kẹt số hoặc lốc máy quá nóng, không nên chỉ châm nhớt rồi chạy tiếp. Cần kiểm tra bánh răng, trục, bạc đạn và bộ nồi để xác định chi tiết nào đã bị ảnh hưởng.

Những sai lầm thường gặp khi kiểm tra và thay nhớt

  • Kiểm tra khi xe dựng nghiêng bằng chống bên.
  • Châm nhớt theo cảm tính mà không đo dung tích.
  • Lấy dung tích sau khi rã máy để châm cho lần thay nhớt định kỳ.
  • Châm đủ số lít nhưng không kiểm tra lại bằng ốc thăm nhớt.
  • Dùng nhớt 2T châm vào lốc máy thay cho nhớt 4T.
  • Tái sử dụng long đền đã chai hoặc biến dạng.
  • Siết ốc xả quá mạnh làm tuôn ren lốc máy.
  • Không lau sạch lốc máy nên khó phát hiện vị trí rò rỉ mới.
  • Thấy nhớt thiếu nhưng chỉ châm thêm, không tìm nguyên nhân chảy nhớt.
  • Đổ bỏ nhớt cũ xuống cống, đất hoặc nguồn nước.

Khi nào nên đem xe ra tiệm?

Anh em nên đem xe đến thợ kiểm tra nếu gặp một trong các trường hợp sau:

  • Nhớt tụt nhanh dù đã châm đúng mức.
  • Trong nhớt có nhiều mạt sắt hoặc mảnh kim loại.
  • Nhớt có màu trắng đục hoặc lẫn nước.
  • Hộp số hú lớn, vô số bị kẹt hoặc thường xuyên nhảy số.
  • Bộ nồi trượt, rung hoặc phát tiếng kêu bất thường.
  • Ốc xả bị tuôn ren hoặc không thể siết kín.
  • Phốt và ron tiếp tục rịn nhớt sau khi đã đưa mức nhớt về đúng tiêu chuẩn.

Kết luận

Thiếu nhớt khiến bánh răng, bạc đạn và bộ nồi không được bôi trơn đầy đủ, dẫn đến nóng máy, vô số nặng và nguy cơ hư hộp số. Châm dư nhớt lại làm tăng lực cản, khiến nhớt nổi bọt và có thể bị đẩy ra đường thông hơi, ron hoặc phốt.

Đối với NZ125R, lượng nhớt sau khi xả định kỳ là khoảng 1,1 lít; NZ125RS là khoảng 1,0 lít. Sau khi châm, vẫn phải kiểm tra lại tại ốc thăm nhớt, không nên chỉ dựa hoàn toàn vào số lít đã đổ vào.

Khi thay ốc xả, long đền, ron, phốt hoặc sửa chữa bộ nồi và hộp số, nên sử dụng phụ tùng chính hãng hoặc sản phẩm có nguồn

Chat Messenger